Cung Phúc Đức – Luận giải ý nghĩa của cung Phúc Đức

Cung Phúc Đức – Luận giải ý nghĩa của cung Phúc Đức

Cung Phúc Đức là cung quan trọng nhất của lá số mà người xem Tử Vi cần phải xem đầu tiên khi giải đoán 1 lá số. Do vậy chúng ta hãy tìm hiểu về cung Phúc Đức này.

TRA CỨU CÁC SAO TRONG TỬ VI

DỊCH VỤ XEM TỬ VI

Tham gia nhóm thảo luận về Tử Vi trên Facebook

 

Danh mục nội dung

Tại sao lại có cung Phúc Đức

Khoa tử vi vốn chịu ảnh hưởng của lý thuyết Phật học, nên xem cung phúc đức như quan trọng nhất trong số các cung và có hiệu lực chi phối rất mạnh mẽ đến sự hay dở của 11 cung khác.

Khoa tử vi vốn duy thần, duy linh, nên đặt căn bản suy luận tiên khởi trên các ý niệm nhân quả, luân hồi, di truyền, nghiệp (karma) của mỗi người trong bối cảnh sinh hoạt của một gia tộc, của một giòng họ, trong bối cảnh địa lý của âm phần tổ tiên. Được xem như có hậu quả di truyền cho đến những đời con cháu. Các ý niệm trên được gói ghém trong những danh từ tổng hợp là “phúc đức”. Vì tính cách huyền bí và rộng rãi của ý niệm đó, nên danh từ Phúc đức rất khó hiểu.

Cung Phúc Đức là gì

Để tìm hiểu cung Phúc Đức là gì chúng ta hãy tìm hiểu phạm vi và nội dung của cung Phúc Đức

a) Phạm vi của Phúc đức

Sự tranh chấp liên quan rất nhiều đến phạm vi của danh từ phúc đức.

–    Có người cho Phúc đức bao hàm tình trạng của cả một giòng họ. Quan niệm tổng quát này tuy có khả chấp, nhưng, chưa ai qui định rõ ràng hơn khởi nguyên của giòng họ bắt đầu kể từ đời nào (có người cho rằng phát nguyên từ đời ông nội) và sẽ kéo dài ảnh hưởng cho đến đời nào (có người cho rằng sẽ kéo dài đến đời cháu). Nếu theo quan điểm này thì phúc đức liên hệ đến 5 đời: ông, cha, mình, con, cháu.

Lẽ dĩ nhiên, trong ánh sáng khoa học hiện đại, và qua những thăng trầm lịch sử của các quốc gia, của các gia tộc ta khó lòng chấp nhận rằng 5 đời trong 1 giòng họ lại có phúc đức truyền kiếp giống nhau, mà thời gian có thể phủ trùm gần 100 năm.

Nhưng, vì khoa Tử – Vi chấp nhận ý niệm nhân quả của Phật giáo, nên mới quan niệm phạm vi Phúc đức quá rộng lớn như vậy.

Chính vì thế, nên có người cho rằng chỉ nên giới hạn phạm vi đến tiểu gia đình tức là cha, mình và con (3 đời).

–    Phúc đức còn là hậu quả của âm phần tổ tiên đối với mình và gia đình nhỏ của mình. Về điểm này, khoa Tử – Vi chịu ảnh hưởng của khoa địa lý Trung Hoa, cho rằng mồ mả tổ tiên tùy theo vị trí, hình sắc và thế đất sẽ có ảnh hưởng xa, gần, ít, nhiều đến sinh kế của con cháu.

Và riêng về âm phần, phạm vi của Phúc đức có khi được các sách chú giải đến 4, 5 đời trước và đôi khi cả 6, 7 đời, liên hệ cả đến bàn hệ chứ không riêng gì trực hệ.

Một quan niệm Phúc đức truyền kiếp mơ hồ như thế chưa được tác giả nào giải thích rõ ràng. Hiện nay, thiên hạ ít còn tin vào Phúc đức ông bà, thành thử vấn đề đặt ra là có nên vì sự thay đổi niềm tin đó mà ta phải linh động đánh giá cung Phúc trong bối cảnh tín ngưỡng nghèo nàn hiện thời?

b) Nội dung danh từ của Phúc đức

Tổng các ý nghĩa suy diễn từ các sao của cung Phúc của tác giả, có thể ấn định nội dung đầy đủ nhất của Phúc đức như sau:

1) Được mồ mả tổ tiên, nhất là trực hệ. Mồ mả ngày phải ở lợi địa, thì con cháu mới phát đạt: đây có thể gọi là phúc mộ.

2) Giòng họ phong túc: đó là quan niệm đại gia tộc của nho học. Gia đình ít con được xem như kém phúc tộc.

3) Giòng họ phải ở gần nhau trong một làng càng hay. Sự ly tông để tha phương cầu thực cũng bị xem như bất lợi cho phúc đức: đó là quan niệm phúc tụ.

4) Giòng họ phải hưng vượng mãi về số lượng nhân khẩu lẫn tài lộc, về con trai lẫn con gái, và mỗi người cũng phải hưng vượng suốt đời mới tốt: đó là quan niệm phúc thịnh.

5) Sự hưng thịnh phải hướng thiện mới gieo được nhân tốt, tạo được quả tốt cho các đời sau: đó là quan niệm phúc thiện.

Ảnh hưởng của cung Phúc Đức

Như trên đã trình bày, ảnh hưởng của cung Phúc rất rộng lớn, có thể chế giảm hay tăng trưởng hiệu lực của 2 cung số khác. Một cung Phúc tốt chẳng hạn như có thể giúp tránh được nhiều tai họa, bệnh tật, giảm được nhiều tật xấu, chế được bất lợi của cung Tài, Quan, Di, Điền… nếu các cung này xấu. Ngoài ra Phúc đức cũng ảnh hưởng đến Đại Hạn và Tiểu Hạn rất nhiều.

Cần phân biệt thêm rằng có 2 phúc đức đối với 1 người một phúc đức từ lá số mà có, một phúc đức thực tại mà đương sự đang thụ hưởng. Có trường hợp 2 phúc đức đó không mấy tương hợp. Chính phúc đức thực tại mới là ẩn sổ của vấn đề giải đoán. Người luận đoán hay bao giờ cũng phải suy diễn từ cung Phúc của lá số ra cái phúc đức thực tại, càng chính xác càng tốt. Cũng cần lưu ý rằng cái tốt xấu của Phúc đức nhiều khi không phải là tốt hay xấu toàn diện mà chỉ liên quan đến 1, 2 phương diện mà thôi, không thể tổng quát hóa.

Ý nghĩa của cung Phúc Đức

Riêng cung Phúc hầu như có ý nghĩa liên đới với bất cứ cung nào và ban cho các cung khác cái hay, cái dở của cung Phúc. Vì vậy, người đoán tử vi không nên thu hẹp địa hạt một cung trong các sao tọa thủ mà phải xét tất cả bối cảnh các cung hay một số cung, mà phải tìm sự liên đới với các cung có quan hệ khác. Ví dụ như khảo sát cung Phu không chỉ xem thêm cung Phúc, Di, Quan mà phải xem thêm Nô, Mệnh, Thân.

Không nên giới hạn việc giải đoán trong một lãnh vực, người xem tử vi cũng không nên giới hạn việc giải đoán trong thời gian. Ví dụ khi xem cung Tật, không phải các việc liên hệ đến sức khỏe, bệnh tật, họa đều chất chứa trong các cung chiếu Tật. Trái lại, mỗi năm có 2 cung Hạn, 1 cung Hạn của 10 năm và 1 cung Hạn một năm, cả hai cùng ám chỉ tình trạng bệnh tật, sức khỏe của thời gian một năm. Thành thử, phải lồng khung sự giải đoán trong thời gian ngắn và dài của tiểu đại hạn để xem bất cứ việc gì.

Nếu thiếu ý niệm linh động trong lãnh vực và trong thời gian, người xem tử vi chắc chắn sẽ rơi vào phiến diện, khẳng định thiếu sót, nghèo nàn, ít chính xác. Ngược lại, nếu biết linh động, sự giải đoán sẽ toàn diện, phong phú, chính xác hơn.

(biên soạn lại theo Tử Vi Hàm Số – Nguyễn Phát Lộc)

Ý nghĩa của các chính tinh tại cung Phúc Đức

Cùng xem ý nghĩa của các sao khi đóng tại cung Phúc Đức nhé

1. Tử Vi tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Ngọ: hưởng phúc lâu dài. Tránh được nhiều tai họa. Trong họ có nhiều người qúy hiến.

– Đơn thủ tại Tý: suốt đời hay gặp những sự may mắn. Trong họ tuy hiếm người, nhưng cùng khá giả.

– Phủ đồng cung, Tướng đồng cung: suốt đời được xứng ý toại lòng, sống lâu và hưởng phúc. Họ hàng nhiều người giàu sang.

– Sát đồng cung: phải ly tổ, bôn ba mới được hưởng phúc sống lâu. Trong họ có nhiều người giàu sang, hiển đạt về võ nghiệp, nhưng ở xa quê hương.

– Phá đồng cung: Lao tâm khổ tứ, chẳng được yên thân. Phải lìa bỏ quê hương mới khá giả và sống lâu. Họ hàng ly tán.

– Tham đồng cung: suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng, giảm thọ vì bạc phúc. Họ hàng ly tán, người nào khá giả lại chết sớm.

2. Liêm Trinh tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Dần, Thân: được hưởng phúc. Trong họ ít của, hiếm người.

– Phủ đồng cung: suốt đời sung sướng, phúc thọ song toàn. Trong họ có nhiều người giàu sang.

– Tướng đồng cung: được hưởng phúc. Họ hàng khá giả nhưng hiếm người.

– Phá đồng cung: vất vả lao khổ, phải xa quê hương mới sống lâu. Họ hàng ly tán.

– Tham đồng cung: giảm thọ, khó tránh được tai ương, họa hại. Trong họ có nhiều người bần

hàn hay mắc tù tội, thường phải bạt quán xiêu cư.

– Sát đồng cung: giảm thọ, hay gặp nguy hiểm, phải xa quê hương mới mong được an toàn. Trong họ có nhiều người chết non một cách thê thảm. Nếu không, cũng phải mang tàn tật, ác bệnh, hay mắc tù tội, khốn cùng.

3. Thiên Đồng tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Mão: được hưởng phúc, sống lâu, nhưng thường hay thay đổi chí hướng, hay canh cải công việc. Càng xa quê hương lại càng khá giả. Họ hàng phân tán làm ăn ở phương xa. Trong họ thường có thần đồng xuất hiện.

– Đơn thủ tại Dậu: giảm thọ. Suốt đời lao tâm khổ tứ, hay phải thay đổi công việc và chí hướng, nhưng chẳng được xứng ý toại lòng. Có lập nghiệp ở xa quê hương mới mong được đủ ăn, đủ mặc. Họ hàng ly tán.

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi: suốt đời sung sướng, nhưng giảm thọ. Muốn sống lâu, nên xuất ngoại, nay đây mai đó. Họ hàng ly tán, phiêu bạt, trai gái rất phóng đãng.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Cự đồng cung: giảm thọ, suốt đời vui ít buồn nhiều, hay mắc tai nạn, khẩu thiệt, kiện cáo. Phải ly tổ, xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, thường tranh chấp lẫn nhau.

– Lương đồng cung: suốt đời thanh nhàn, được hưởng phúc sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến, giàu sang và thường có thần nhân giáng hạ.

– Nguyệt đồng cung tại Tý: được hưởng phúc, sống lâu, Nên lập nghiệp ở xa quê hương, bản quán. Họ hàng qúy hiển, có danh giá, uy quyền tế thế.

– Nguyệt đồng cung tại Ngọ: giảm thọ. Phải ly tổ bôn ba mới mong được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút phiêu bạt.

4. Vũ Khúc tại cung Phúc Đức

– Trong họ hiếm người.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất, Tham đồng cung: được hưởng phúc sống lâu. Về già, lại càng xứng ý toại lòng. Trong họ thường có người giàu sang hay hiển đạt về võ nghiệp.

– Phủ đồng cung: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng khá giả.

– Tướng đồng cung: phúc thọ song toàn. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng qúy hiển giàu sang.

– Phá đồng cung: phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân hưởng phúc sống lâu. Họ hàng ly tán nhưng có người giỏi vế kỹ thuật, mỹ thuật hay kinh doanh buôn bán.

– Sát đồng cung: giảm thọ vì bạc phúc. Suốt đời lao tâm khổ tứ, hay mắc tai họa. Xa quê hương, xa gia đình cũng chẳng được yên thân. Họ hàng sa sút ly tán, thường có người chết non, mang ác tật hay bần khổ.

5. Thái Dương tại cung Phúc Đức

– Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu và sung sướng. Họ hàng qúy hiển, giàu sang, có danh giá và uy quyền tế thế.

– Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Nên ly tổ hay ở xa gia đình. Họ hàng càng ngày càng sa sút ly tán, có nhiều người gian quyệt nhưng bần cùng, có người phiêu bạt giang hồ, lại có người mang ác tật hay mắc tai nạn chết một cách thê thảm

– Nguyệt đồng cung: không được hưởng phúc dồi dào, nên hay gặp trở ngại trên đường đời. Nên tập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán. Nếu sinh ban ngày, phải luận đoán trong họ đàn ông, con trai hiển đạt, còn đàn bà con gái vất vả về chồng con, hay yểu tử. Trái lại, nếu sinh ban đêm, phải luận đoán là trong họ đàn bà, con gái giàu có, sung sướng, còn đàn ông con trai cùng khổ phiêu bạt.

6. Thiên Cơ tại cung Phúc Đức

– Trong họ hiếm người

– Đơn thủ tại Tỵ, Ngọ, Mùi: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng khá giả

– Đơn thủ tại Hợi, Tý, Sửu: bạc phúc: họ hàng ly tán.

– Cự đồng cung: tuy được hưởng phục, nhưng lúc thiếu thời chẳng được xứng ý toại lòng. Về già hay gặp may mắn. Họ hàng khá giả.

– Lương đồng cung: sống lâu, thanh nhàn, sung sướng. Họ hàng có người giàu sang, và thường có thần nhân giáng hạ.

– Nguyệt đồng cung tại Thân: được hưởng phúc, sống lâu. Trong họ có người giàu sang, nhưng đàn bà con gái thường khá giả hơn là đàn ông con trai.

– Nguyệt đồng cung tại Dần: không được hưởng phúc dồi dào nên suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bình thường, nhưng đàn bà con gái hay trắc trở vê chồng con, lại có người phong tình hoa nguyệt.

7. Thiên Phủ tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Tỵ, Нợi: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng đông đảo, khá giả

– Đơn thủ tại Sửu, Mùi, Mão, Dậu: không được hưởng phúc dồi dào. Nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Trong họ, nhiều người giàu sang, nhưng ly tán.

– Tử đồng cung, Tướng đồng cung: suốt đời được xứng ý toại lòng, sống lâu và hưởng phúc. Họ hàng nhiều người giàu sang.

– Liêm đồng cung: suốt đời sung sướng, phúc thọ song toàn. Trong họ có nhiều người giàu sang.

– Vũ đồng cung: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng khá giả.

8. Thái Âm tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Dậu, Tuất, Hợi: được hưởng phúc trọn đời, sung sướng, sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến và giàu sang.

– Đơn thủ tại Mão, Thìn, Tỵ: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời vui ít buồn nhiều, lao tâm khổ tứ. Nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, có sớm xa cách gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, nhiều người cùng khổ, cô đơn, mang ác tật, phiêu bạt giang hồ, hay mắc tai nạn mà chết một cách thê thảm. Đàn bà con gái trong họ rất vất vả về chồng con.

– Đồng đồng cung tại Tý: được hưởng phúc, sống lâu, Nên lập nghiệp ở xa quê hương, bản quán. Họ hàng qúy hiển, có danh giá, uy quyền tế thế.

– Đồng đồng cung tại Ngọ: giảm thọ. Phải ly tổ bôn ba mới mong được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút phiêu bạt.

– Nhật đồng cung: không được hưởng phúc dồi dào, nên hay gặp trở ngại trên đường đời.

Nên tập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán. Nếu sinh ban ngày, phải

luận đoán trong họ đàn ông, con trai hiển đạt, còn đàn bà con gái vất vả về chồng con, hay yểu tử.

Trái lại, nếu sinh ban đêm, phải luận đoán là trong họ đàn bà, con gái giàu có, sung sướng, còn đàn ông con trai cùng khổ phiêu bạt.

– Cơ đồng cung tại Thân: được hưởng phúc, sống lâu. Trong họ có người giàu sang, nhưng đàn bà con gái thường khá giả hơn là đàn ông con trai.

– Cơ cung tại Dần: không được hưởng phúc dồi dào nên suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bình thường, nhưng đàn bà con gái hay trắc trở vê chồng con, lại có người phong tình hoa nguyệt.

9. Tham Lang tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: được hưởng phúc. Về già rất sung sướng. Trong họ nhiều người giàu có, nhưng thường lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương.

– Đơn thủ tại Dần, Thân: Không được hưởng phúc dồi dào, nhưng cũng sống lâu. Họ hàng bình thường, có nhiều người lập thân bằng võ nghiệp.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: bạc phúc nên giảm thọ. Phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, càng ngày càng sa sút, lại có nhiều người rất dâm đãng

– Tử đồng cung: suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng, giảm thọ vì bạc phúc. Họ hàng ly tán, người nào khá giả lại chết sớm.

– Liêm đồng cung: giảm thọ, khó tránh được tai ương, họa hại. Trong họ có nhiều người bần hàn hay mắc tù tội, thường phải bạt quán xiêu cư.

– Vũ đồng cung: được hưởng phúc sống lâu. Về già, lại càng xứng ý toại lòng. Trong họ thường có người giàu sang hay hiển đạt về võ nghiệp.

10. Cự Môn tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ lại Hợi, Tý, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu, về già rất sung sướng. Họ hàng giàu có qúy hiển.

– Đơn thủ tại Tỵ, Thìn, Tuất: giảm thọ. Suốt đời lao tâm khổ tứ chẳng được xứng ý toại lòng,

lại hay mắc tai nạn khẩu thiệt, kiện cáo. Phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân. Trong họ

thường có sự tranh chấp, nhiều người phiêu bạt giang hồ, nếu không, cũng khốn cùng, mắc hình

ngục, hay yểu tử.

– Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu và sung sướng. Họ hàng qúy hiển, giàu sang, có danh giá và uy quyền tế thế.

– Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Nên ly tổ hay ở xa gia đình. Họ hàng càng ngày càng sa sút ly tán, có nhiều người gian quyệt nhưng bần cùng, có người phiêu bạt giang hồ, lại có người mang ác tật hay mắc tai nạn chết một cách thê thảm

– Đồng đồng cung: giảm thọ, suốt đời vui ít buồn nhiều, hay mắc tai nạn, khẩu thiệt, kiện

cáo. Phải ly tổ, xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng ly tán, thường tranh chấp lẫn nhau.

– Cơ đồng cung: tuy được hưởng phục, nhưng lúc thiếu thời chẳng được xứng ý toại lòng. Về già hay gặp may mắn. Họ hàng khá giả.

11. Thiên Tướng tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Tỵ, Hợi, Sửu, Mủi: được hưởng phúc, suốt đời bay gặp may mắn. Trong họ có nhiều người qúy hiển, giàu sang.

– Đơn thủ tại Mão, Dậu: không được hưởng phúc dồi dào, nên lúc thiếu thời chẳng được

xứng ý toại lòng. Về già hay gặp may mắn. Họ hàng càng ngày càng khá giả.

– Tử đồng cung: suốt đời được xứng ý toại lòng, sống lâu và hưởng phúc. Họ hàng nhiều người giàu sang.

– Liêm đồng cung: được hưởng phúc. Họ hàng khá giả nhưng hiếm người.

– Vũ đồng cung: phúc thọ song toàn. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng qúy hiển giàu sang.

12. Thiên Lương tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: được hưởng phúc, thanh nhàn, sung sướng tránh được nhiều tai họa và sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến, có danh tiếng lừng lẫy.

– Đơn thủ tại Sửu, Mùi: được hưởng phúc, sống lâu. Họ hàng bình thường.

– Đớn thủ tại Tỵ, Hợi: giảm thọ, khó tránh được tai họa. thường phải sớm xa gia đình, nay

đây mai đó, hay thay đổi công việc và chí hướng. Họ hàng càng ngày càng sa sút ly tán, đàn ông

con trai có nhiều người chơi bời, du đãng, đàn bà con gái cũng có nhiều người dâm dật, hay trắc trở về chồng con.

– Đồng đồng cung: suốt đời thanh nhàn, được hưởng phúc sống lâu. Trong họ có nhiều người qúy hiến, giàu sang và thường có thần nhân giáng hạ.

– Tọa thủ tại Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu và sung sướng. Họ hàng qúy hiển, giàu sang, có danh giá và uy quyền tế thế.

– Tọa thủ tại Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý: bạc phúc nên tuổi thọ bị chiết giảm. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Nên ly tổ hay ở xa gia đình. Họ hàng càng ngày càng sa sút ly tán, có nhiều người gian quyệt nhưng bần cùng, có người phiêu bạt giang hồ, lại có người mang ác tật hay mắc tai nạn chết một cách thê thảm

– Cơ đồng cung: sống lâu, thanh nhàn, sung sướng. Họ hàng có người giàu sang, và thường có thần nhân giáng hạ.

13. Thất Sát tại cung Phúc Đức

– Đơn thủ tại Dần, Thân: được hưởng phúc, nhưng nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Họ hàng khá giả, có danh giá và uy quyền tế thế, lại có nhiều người hiển đạt về võ nghiệp.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: không được hưởng phúc dồi dào, suốt đời may thường đi liền với rủi. Nên ly tổ có sớm xa gia đình mới mong được yên thân. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán, có nhiều người hiển đạt về vỗ nghiệp.

– Đơn thủ tại Тhìn, Tuất: bạc phúc nên giảm thọ. Khó tránh được lai nạn vẻ đao thương, dễ mắc hình ngục. Phải ly tổ, ở xa gia đình, may ra mới được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút, nghèo khổ, ly tán, lại có nhiều người chết non.

– Tử đồng cung: phải ly tổ, bôn ba mới được hưởng phúc sống lâu. Trong họ có nhiều người giàu sang, hiển đạt về võ nghiệp, nhưng ở xa quê hương.

– Liêm đồng cung: giảm thọ, hay gặp nguy hiểm, phải xa quê hương mới mong được an toàn. Trong họ có nhiều người chết non một cách thê thảm. Nếu không, cũng phải mang tàn tật, ác bệnh, hay mắc tù tội, khốn cùng.

– Vũ đồng cung: giảm thọ vì bạc phúc. Suốt đời lao tâm khổ tứ, hay mắc tai họa. Xa quê hương, xa gia đình cũng chẳng được yên thân. Họ hàng sa sút ly tán, thường có người chết non, mang ác tật hay bần khổ.

14. Phá Quân tại cung Phúc Đức

– Họ hàng ly tán, thường lập nghiệp ở xa quê hương.

– Đơn thủ tại Tý, Ngọ: được hưởng phúc, sống lâu, nhưng nên lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, Họ hàng khá giả. Tuy vậy ngành trưởng bao giờ cũng phiêu bạt, lụn bại.

– Đơn thủ tại Thìn, Tuất: không được hưởng phúc dồi dào. Phải ly tán, sớm xa gia đình, mới mong được yên thân. Trong họ có người qúy hiển.

– Đơn thủ tại Dần, Thân: bạc phúc nên giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Phải ly tổ, sớm xa gia đình, may ra mới được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút.

– Tử đồng cung: Lao tâm khổ tứ, chẳng được yên thân. Phải lìa bỏ quê hương mới khá giả và sống lâu. Họ hàng ly tán.

– Liêm đồng cung: vất vả lao khổ, phải xa quê hương mới sống lâu. Họ hàng ly tán.

– Vũ đồng cung: phải lập nghiệp ở xa quê hương, phải sớm xa gia đình mới mong được yên thân

hưởng phúc sống lâu. Họ hàng ly tán nhưng có người giỏi vế kỹ thuật, mỹ thuật hay kinh doanh buôn bán.

 

Ý nghĩa các phụ tinh tại cung Phúc Đức

1. Kình Dương, Đà La tại cung Phúc Đức

– Họ hàng ly tán.

– Sáng sủa tốt đẹp: suốt đời may thường đi liền với rủi, về già được an nhàn. Họ hàng trước ly tán, sau quần tụ, càng ngày càng khá giả.

– Mờ ám xâu xa: bạc phúc nên giảm thọ. Khó tránh được tai họa, thường phải lập nghiệp thật xa quê

hương, không mấy khi được xúng ý toại lòng. Trong họ có người tàn tật, chết non hoặc trộm cắp, du đãng.

2. Hỏa Tinh, Linh Tinh tại cung Phúc Đức

– Giảm thọ.

– Sáng sủa tốt đẹp: suốt đời may thường đi liền với rủi. Trong họ có nhiều người qúy hiển, nhưng hay chết non.

– Mờ ám xâu xa: suốt đời lao tâm khổ tứ, không mấy khi được xứng ý toại lòng. Khó tránh được tai họa. Họ hàng càng ngày càng sa sút.

3. Địa Không,Địa Kiếp tại cung Phúc Đức

– Sáng sủa tốt đẹp: bạc phúc, suốt đời mưu sự buổi đầu thường trắc trở, về sau mới được hành thông, đắc ý. Trong cái may có chứa dựng nhiều cái rủi. Họ hàng khá giả, nhưng ly tán.

– Mờ ám xấu xa: giảm thọ, khó tránh được tai họa. Phải lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, may ra mới được yên thân. Họ hàng càng ngày càng sa sút, ly tán.

4. Văn Xương, Văn Khúc tại cung Phúc Đức

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc sung sướng, vinh hiển và sống lâu. Trong họ có nhiều người đỗ đạt cao có danh giá.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: giảm thọ, khó tránh được tai họa. Phải sớm xa gia đình, như thế may ra mới được yên thân. Họ hàng tuy khá giả, có người đỗ đạt cao, nhưng ly tán. Những người có danh giá lại hay mang tàn tật, ác bệnh, nếu không cũng chết non.

5. Thiên Khôi,Thiên Việt tại cung Phúc Đức

– Tăng tuổi thọ

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc vinh hiển và sống lâu. Trong họ có nhiều người đỗ đạt làm nên danh giá, lại thường có vĩ nhân hay thần đồng xuất hiện.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: trong cái may có chứa đựng nhiều cái rủi. Nếu có danh giá, tất khó tránh được tai họa. Họ hàng mỗi ngày một suy bại.

6. Tả Phù , Hữu Bật tại cung Phúc Đức

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc sống lâu. Suốt đời hay gặp may mắn. Càng ở xa quê hương lại càng khá giả. Họ hàng qúy hiển giàu sang, nhưng không ở gần nhau.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: bạc phúc nên giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Phải lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, hay phải sớm xa gia đình, may ra mới được yên thân. Trong họ có người cùng khổ phiêu bạt, hoặc du đãng, bất lương, nếu không, cùng mang tàn tật, ác bệnh, hay mắc tai nạn mà chết một cách thê thảm. Họ hàng càng ngày càng ly tán, lụn bại.

7. Lộc Tồn tại cung Phúc Đức

Tăng tuổi thọ, được hưởng phúc, trong họ hiếm người và thường có sự tranh chấp bất hòa. Họ hàng khá giả nhưng ly tán.

8. Hóa Lộc tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc, khỏi phải lo lắng những lúc túng thiếu. Tránh được nhiều tai họa, họ hàng giàu có.

9. Hóa Quyền tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc. Được nhiều người vị nể. Họ hàng qúy hiển, có danh giá, truyền từ đời này sang đời khác. Nhận định theo Thiên Khôi, Thiên Việt

10. Hóa Khoa tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc sống lâu. Tránh được nhiều tai họa. Họ hàng khá giả, có người đỗ đạt cao.

11. Hóa Kỵ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Họ hàng ly tán, hay tranh chấp lẫn nhau.

12. Tiểu Hao, Đại Hao tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Nên sớm xa gia đình, trong họ có nhiều người nghèo túng, phải đi biệt xứ.

13. Tang Môn, Bạch Hổ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Họ hàng ly tán, những người khá giả lại chết sớm.

14.Thiên Khốc, Thiên Hư tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Họ hàng hay oán trách lẫn nhau.

15. Thiên Mã tại cung Phúc Đức

Tăng tuổi thọ. Càng ở xa quê hương lại càng khá giả. Trong họ có nhiều người hiển đạt, nhưng không ở gần nhau.

16. Thái Tuế tại cung Phúc Đức

Không được hưởng phúc dồi dào, khó tránh được tai họa. Trong họ thiếu hòa khí, thường có sự tranh chấp lẫn nhau.

17. Long Trì, Phượng Các tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc. Trong họ có nhiều người khá giả.

18. Cô Thần, Quả Tú tại cung Phúc Đức

– Trong họ hiếm người.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc. Tránh được nhiều tai họa. Họ hàng khá giả.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: giảm thọ, khó tránh được tai họa. Họ hàng càng ngày càng lụn bại.

19. Đào Hoa, Hồng Loan tại cung Phúc Đức

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: được hưởng phúc sống lâu. Suốt đời hay gặp may. Trong họ có

nhiều người qúy hiển giàu sang. Nhưng bao giờ đàn ba con gái cung khá giả hơn đàn ông con trai.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: bạc phúc nên giảm thọ. Khó tranh được tai họa. Họ hàng càng

ngày càng lụn bại, ly tán. Đàn bà con gái rất trắc trở về chồng con, lại có nhiều người dâm đãng.

20. Ân Quang, Thiên Qúy tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng khá giả.

21.Thiên Quan, Thiên Phúc tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc. Tránh được nhiều tai họa. Trong họ có nhiều người khá giả và nhân đức.

22.. Tuần, Triệt án ngữ tại cung Phúc Đức

– Lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương. Càng sớm xa gia đình lại càng khá giả. Họ hàng ly tán. Ngành , trưởng họ lụn bại.

– Nhiều sao sáng sủa tốt đẹp: giảm thọ, khó tránh được tai họa. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng càng ngày càng ly tán lụn bại.

– Nhiều sao mờ ám xấu xa: tăng thọ, tránh được nhiều tai họa. Mưu sự gay trắc trở buổi đầu, nhưng về sau lại hành thông toại ý. Họ hàng ngày càng khá giả.

Ý nghĩa các bộ sao tại cung Phúc Đức

 Tử Vi, Sát tinh đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, khó tránh được tai họa. Phải lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, may ra mới được yên thân. Họ hàng ly tán, có nhiều người chết bất đắc kỳ tử. Ngành trưởng họ suy bại

Vũ, Xương, Khúc, Khôi, Việt tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc, sống lâu. Suốt đời gặp may mắn. Trong họ có nhiều người qúy hiển, lại thường có vĩ nhân hay anh hùng dân tộc xuất hiện.

Nhật sáng sủa, Riêu, Đà, Kỵ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, mắt kém. Khó tránh được tai họa. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng ly tán, hay tranh chấp lẫn nhau. Những người qúy hiển lại hay gặp những chuyện chẳng lành.

Nhật mờ ám, Riêu, Đà, Kỵ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, mắt kém. Khó tránh được tai họa. Suốt đời bất đắc chí. Họ hàng ly tán, hay tranh chấp lẫn nhau. Những người qúy hiến lại hay gặp những sự chẳng lành. Đàn bà con gái trong họ thường phải buồn phiền vì chồng con.

Nguyệt sáng sủa, Riêu, Đà, Kỵ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, mắt kém. Khó tránh được tai họa. Suốt đời bất đắc chí. Họ hàng ly tán, hay tranh chấp lẫn nhau. Những người qúy hiến lại hay gặp những sự chẳng lành. Đàn bà con gái trong họ thường phải buồn phiền vì chồng con.

Nguyệt mờ ám, Riêu, Đà, Kỵ tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, mắt kém rất đáng lo ngại. Tai họa đầy rẫy không kể xiết được. Họ hàng càng

ngày càng ly tán, suy bại. Đàn bà con gái trong họ, nếu không vất vả về chồng con, cũng chết sớm.

Nhật, Nguyệt, Kỵ đồng cung Sửu, Mùi tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc sống lâu. Suốt đời gặp may mắn. Càng ở xa quê hương lại càng khá giả. Trong họ có nhiều người qúy hiến, nhưng thường bất hòa, không ở gần nhau. Tổ tiên xa đời cũng đã có danh giá và tiếng tăm lưu lại đến đời nay.

Phủ, Tam Không đồng cung tại cung Phúc Đức

Bạc phúc nên giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Phải lập nghiệp ở nơi thật xa quê hương, hay phải sớm xa gia đình may ra mới được yên thân. Họ hàng càng ngày càng ly tán, suy bại. Ngành trưởng họ phiêu bạt cùng khổ.

Tham, Vũ, Hỏa (hay Linh) đồng cung Sửu, Mùi tại cung Phúc Đức

Được hưởng phúc, tăng thêm tuổi thọ. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng khá giả, nhiều người giàu có qúy hiến.

 Cự, Kỵ đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng bất hòa ly tán và càng ngày càng suy bại. Lại có người mắc hình ngục, hay chết một cách thê thảm.

Cự, Hỏa đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ, tai họa đầy rẫy. Họ hàng bất hòa ly tán và càng ngày càng suy bại. Nhà thờ họ đã có lần bị cháy.

Sát, Kình đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Khó tránh được tai hoa. Trong họ có nhiều người chết bất đắc kỳ tử.

 Kình, Đà, Không, Kiếp tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Khó tránh được những sự chẳng lành. Suốt đời lao tâm khổ tứ. Họ hàng ly tán, lại

có nhiều người mang tàn tật hay ác bệnh. Nếu không cũng là hạng du đãng, cùng khổ và chết non.

 Kình, Đà, Hỏa tại cung Phúc Đức

Bạc phúc nên giảm thọ. Tai họa đẫy rẫy. Họ hàng ly tán càng ngày càng suy bại, lại có nhiều

người cùng khổ, du đãng, nếu không cũng điên cuồng, hay mang tàn tật, ác bệnh, hay chết non.

Hỏa (hay Linh), Tang đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Họ hàng ly tán. Những người khá giả lại hay chết non. Nhà thờ họ đả có lần bị cháy.

Kỵ Kình (hay Đà) đồng cung tại cung Phúc Đức

Bạc phúc nên suốt đời lao tâm khổ tứ may ít rủi nhiều. Họ hàng hay tranh chấp lẫn nhau và càng ngày càng sa sút lại có nhiều người là hạng du đãng trộm cướp.

Kỵ, Không, Kiếp đồng cung tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Suốt đời chẳng được xứng ý toại lòng. Họ hàng ly tán, càng ngày càng suy bại, lại có nhiều người bất lương.

Kỵ, Bệnh, Phù, Hình tại cung Phúc Đức

Giảm thọ. Khó tránh được tai họa. Đau ốm lâu khỏi. Trong họ có nhiều người mang ác tật, ác bệnh (điên, lao, hủi), nếu không, cùng nghèo hèn hay chết non.

Cô (hay Qủa), Thiên Quan (hay Thiên Phúc)tại cung Phúc Đức

Suốt đời hay gặp may mắn, tránh được nhiều tai họa, vì luôn luôn có thần linh hộ trì. Trong họ có phúc thần.

Cô (hay Qủa), Quang (hay Qúy) đồng cung tại Phúc Đức

Suốt đời hay gặp may mắn, tránh được nhiều tai họa, vì luôn luôn có thần linh hộ trì. Trong họ có phúc thần.

Cô (hay Qủa), Hồng (hay Đào) đồng cung tại Phúc Đức

Có bà tổ linh thiêng hộ trì. Trong họ, đàn bà con gái thường trắc trở về chồng con, nếu không cũng yểu tử.

Đào, Hồng, Binh, Tướng đồng cung tại Phúc Đức

Trong họ có nhiều con gái bất chính.

Đào, Hồng, Binh, Tướng, Dưỡng, Thai đồng cung tại Phúc Đức

Trong họ có nhiều con gái chửa hoang, hay bỏ nhà theo trai.

 Riêu (hay Tử), nhiều sao thuộc Thủy

Giảm thọ. Phải lìa bỏ quê hương, đi lập nghiệp ở nơi thật xa xôi. Họ hàng càng nghèo khổ ly tán, lại có nhiều người mang ác bệnh ác tật, nếu không cũng yểu tử. Đàn bà con gái trong họ thường trắc trở về đường chồng con.

Cung Phúc Đức Vô Chính diệu

– Coi Chính diệu xung chiếu như Chính diệu tọa thủ.

– Nếu cung Phúc Đức vô Chính diệu có Tuần, Triệt án ngữ, hay có Tam Không hội hợp, phải luận đoán là được hưởng phúc sống lâu. Trái lại, nếu cung Phúc Đức vô Chính diệu không có Tuần, Triệt án ngữ, hay không có Tam Không hội hợp, phải luận đoán là kém phúc (dù có sự hội hợp của nhiều sao sáng sủa tốt đẹp cũng thế). Nên chú ý nhận định những trường hợp đặc biệt sau đây:

+ Nhật, Nguyệt chiếu hư không: cung Phúc Đức vô Chính diệu có Nhật, Nguyệt sáng sủa tốt đẹp hội chiếu được hưởng phúc sống lâu, tránh được nhiều tai họa. Họ hàng khá giả, có nhiều người qúy hiển, giàu sang. Tổ tiên xa đời cũng đã có danh giá tiếng tăm còn lưu lại đến đời nay. Cũng trong trường hợp này, nếu cung Phúc Đức vô Chính diệu lại có Tuần, Triệt án ngữ, hay có Tam Không hội hợp lại càng rực rỡ

+ Đà La độc thủ, cung Phúc Đức vô Chính diệu an tại Dần, Thân, có Đà La tọa thủ: được hưởng phúc, sống lâu. Suốt đời hay gặp may mắn. Họ hàng càng ngày càng khá giả, có nhiều người qúy hiển, văn võ toàn tài. Cũng trong trường hợp này, nếu Đà La gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ không được coi là Đà La độc thủ nữa.

(theo Vân Đằng Thái Tứ Lang)

Các bạn có thể xem thêm: Cách xem âm phần qua cung Phúc Đức

Share this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *