Vấn đề luận nam mệnh VCD nội Cự Nhật

Vấn đề luận nam mệnh VCD nội Cự Nhật

1. Ổn định sẽ giúp chế hóa cách cục nặng ở THÂN/PHÚC như là Hình Kỵ Linh Hỏa: theo tôi hiểu, Kỵ sẽ làm bộc lộ những khiếm khuyết của các sao, nên nếu hành động nóng lạnh (Hỏa Linh) thất thường sẽ phát sinh tai họa. Như vậy nếu không có Hỏa Linh, chỉ có Hình hoặc chỉ có Hình/Kỵ thì cách chế hóa có còn là Ổn Định hay không? Nếu không, lời khuyên của Tử Vi Luận Giải ở đây là gì? (Qua kiến thức trên trang luantuvi, chế hóa Hóa Kỵ có thể là sự kín đáo, quyền biến, đa nghi, cẩn thận, tính toán rủi ro …, nhưng chế hóa Hình thì tôi không thấy nói nhiều, chỉ là Riêu gặp không tinh thì hết mờ ám và Hình sẽ là hình mẫu. Điều này có áp dụng với mệnh số của tôi không? Mệnh cách có Riêu ngộ Thiên Không tại bản cung)

Ở đây mệnh cách VCD có nội là Cự Nhật, ngoại cách Đồng Âm do đó cung độ an Thân cùng là cung Thiên Di ứng hợp quan trọng khi luận cách, do đó đương số cũng sẽ rất quan tâm tới cung độ này vì tính quan trọng. Nội cách Cự Nhật Kiếp Phi tính động lớn do giao hội với nhóm Thanh Phi Phục. Ở đây mệnh cách có Binh Hổ là bố cục có thể hóa được Kiếp Kỵ với nội Kiếp ngoại Kỵ. Cung an Thân tính động lớn, do cách cục Đồng Âm ngộ Linh Hình Kỵ giao hội Mã Khốc Tuyệt Tồn Không. Quan trọng nhóm sao an theo Thiên Can là Tồn Ấn Bệnh kỵ ngộ bố cục Tuyệt Kiếp Mã là bế tắc, tồn tại khó khăn, cũng là cách phù động. Tuy nhiên lại hình thành bố cục Lộc Mã giao trì, ở đây nếu dụng ổn định cẩn trọng, tránh phù hợp nhập vận tránh được họa không ngờ đến. Cách cục Cơ Lương Hỏa Linh Hình Kỵ Không Kiếp Tuyệt giao hội với Mã nên càng động thì dễ gặp họa, Cơ Lương là thời cơ,cũng chủ đầu cơ mạo hiểm,mệnh cách tính ổn định tức không nên ưa việc vận dụng cơ hội ngắn để thành tựu nhanh chóng. Với bố cục tổ hợp không thể luận tách riêng rẽ, xét toàn bộ phối hợp chế hóa của từng nhóm giao hội, phân định ra ý nghĩa của toàn tổ hợp. Ở đây bố cục không phải Không Diêu mà là Hình Kỵ Hỏa Linh Tuyệt giao hội Cơ Nguyệt Đồng Lương và Không Kiếp tác động, nhóm sao theo Địa Chi là Phượng Khốc Mã và Thiên Can là Tồn Ấn Bệnh, Khoa có tính cứu trợ, ổn định cách cục. Cách Khoa Ấn nếu không có tại đây thì họa rất nặng nề, có thể vong mạng. Với Phượng thì hai mặt, ở đây thiên về cát hung tương bán, do Phượng Khốc là tổ hợp của nhóm sao này.

2. Mã Hình Tuyệt Linh Hỏa có tính sát rất nặng. Nhưng cũng vẫn câu hỏi trên, nếu chỉ xét riêng Mà Tuyệt (hỏng việc, khó khăn …) thì chế hóa nên là gì?

Không thể xét riêng bố cục một hai sao mà cần xét toàn tổ hợp phối hợp với Chính Tinh, đầy đủ nhóm sao an theo Địa Chi và Thiên Can, tính tác hóa của Sát Kỵ, khả năng chế hóa của Trợ tinh với bố cục, phối hợp như vậy luận cần có thực lý, việc cơ bản hay gặp khi luận tử vi là lắp ráp các sao, luận tách riêng nên không rõ tính chất, đôi khi nhìn cách Kiếp Kỵ trên lá số luận mệnh xấu, yểu tử. Cách cục này cần sự cẩn trọng, giảm động, ổn định cách trước cơ hội ngắn, cẩn trọng không nên suy tính quá nhiều ảnh hưởng tới đầu óc.

3. Ngoài các sát tinh tại THÂN (Di) PHÚC PHỐI, cũng còn Ấn, Khoa, Tướng (Binh Hình Tướng Ấn đứng từ góc độ của Di). Có vẻ như các sao này cũng có một số tác dụng chế hóa (Ấn Hình), Khoa Kỵ/Linh. Nghiệm lý của tôi trong đại vận 23 – 32 là mặc dù bị phá sản nặng nề năm Mậu Dần 1998, nhưng năm 2000 (Canh Thìn) được đinh cư ở nước ngoài th…

Share this post

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *